Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Ho kéo dài ở trẻ em

Trong khi ho cấp tính ở trẻ em thường do nhiễm siêu vi đường hô hấp, thì ho kéo dài được định nghĩa là ho liên tục trên 4 tuần, có nhiều nguyên nhân khác nhau và đôi khi có thể trầm trọng. Điều quan trọng đối với ho kéo dài là phải tìm được nguyên nhân và điều trị thích hợp, tuyệt đối không được dùng các thuốc ức chế ho một cách tùy tiện .

Nguyên nhân ho kéo dài ?

Có nhiều nguyên nhân gây ho kéo dài. Tính chất ho có thể gợi ý một số nguyên nhân như: ho có đờm (ho dị ứng, hen…), ho cơn đỏ mặt ( ho gà, dị vật đường thở, ho do tác nhân Mycoplasma, Chlamydia…), ho về đêm (viêm mũi xoang, hen…), ho sau vận động (hen), không bao giờ ho lúc ngủ  (ho do tâm lý).

Ho kéo dài có thể do nguyên nhân tại phổi (hen, dị vật, lao…) hay do nguyên nhân ngoài phổi (viêm mũi xoang, viêm tai, trào ngược dạ dày thực quản, bệnh lý tim mạch, tác dụng phụ của thuốc nhất là các thuốc tim mạch có tác dụng ức chế men chuyển…).

Ho kéo dài ở trẻ em 1
Khi trẻ bị ho cần đến cơ sở y tế để khám và điều trị đúng nguyên nhân.

Hội chứng chảy mũi sau

Nguyên nhân thường gặp do viêm mũi dị ứng hay viêm mũi xoang mạn tính. Chảy mũi sau kích thích trực tiếp vào các cảm thụ quan gây ho ở thành sau họng, đồng thời hít chất tiết từ mũi khi nằm có thể gây phản xạ mũi - phế quản dẫn đến ho. Bệnh nhân bên cạnh triệu chứng ho kéo dài còn có triệu chứng ngứa mũi, nghẹt mũi. Do đó cần đến khám chuyên khoa tai - mũi - họng để được điều trị thích hợp như  tránh tác nhân gây dị ứng, uống thuốc chống dị ứng, dùng thuốc chống viêm  dạng xịt…

Phân loại nguyên nhân ho kéo dài theo tuổi

Trẻ nhũ nhi: Trào ngược dạ dày, nhiễm trùng (Tác nhân nhiễm trùng: nhiễm virus hợp bào hô hấp, ho gà, nhiễm Chlamydia, Cytomegalovirus, lao), dị tật bẩm sinh đường hô hấp (dị tật đường dẫn khí, dò khí quản thực quản), tim bẩm sinh, ô nhiễm môi trường (hít khói thuốc lá, bụi bặm), hen phế quản.

Trẻ nhỏ: Tăng mẫn cảm phế quản sau nhiễm, hen phế quản, ô nhiễm môi trường, trào ngược, dị vật.

Trẻ lớn: Hen phế quản- chảy mũi sau, ô nhiễm môi trường, lao, giãn phế quản, ho do tâm lý.

Hen phế quản

Ở trẻ nhũ nhi triệu chứng hen không điển hình, đôi khi khó nhận biết và dễ bị chẩn đoán sót, nghi ngờ trẻ có hen phế quản khi có tiền căn ho và khò khò trên ba lần, trẻ có thể lên cơn ho và khò khè sau khi có những yếu tố khởi phát như: nhiễm siêu vi đường hô hấp, tiếp xúc bụi, khói thuốc lá, chó mèo, vận động... Ở trẻ lớn cơn hen có thể biểu hiện rõ ràng hơn: Trẻ hắt hơi chảy nước mũi sau đó ho và khò khè, trẻ tự nhận biết khi có cơn hen như cảm giác nặng ngực, khó thở, khò khè.

Tuy nhiên có nhiều trẻ không có cơn hen điển hình mà chỉ có biểu hiện duy nhất là ho kéo dài, khi đo chức năng hô hấp phát hiện hội chứng tắc nghẽn hô hấp có đáp ứng với thuốc dãn phế quản. Vì vậy khi ho kéo dài trẻ cần được đến khám tại chuyên khoa Hô hấp, Nhi để điều trị cắt cơn và điều trị phòng ngừa thích hợp, các thuốc giảm ho không điều trị được ho kéo dài do hen phế quản.

Bệnh trào ngược dạ dày - thực quản

Trào ngược dạ dày - thực quản là hiện tượng thường gặp ở trẻ nhũ nhi, chiếm khoảng 40-65% ở trẻ khoẻ mạnh, cao nhất ở trẻ 1-4 tháng, tự khỏi sau 12 tháng. Ho kéo dài có thể là biểu hiện duy nhất của trào ngược dạ dày - thực quản, do trẻ hít dịch từ dạ dày  trào lên thực quản vào phổi gây hiện tượng viêm vùng thanh quản và phế quản.

Ở trẻ nhũ nhi bệnh trào ngược dạ dày -  thực quản có thể còn có biểu hiện cơn ngưng thở, nhịp tim chậm, viêm phổi hít tái đi tái lại. Để chẩn đoán xác định cần phải đo độ pH trong thực quản 24 giờ, hoặc siêu âm bụng để tìm dấu hiệu trào ngược dạ dày thực quản.
Ho kéo dài sau nhiễm khuẩn - virut đường hô hấp

Thường có thể chẩn đoán và điều trị nhầm như hen phế quản. Tác nhân gây ho kéo dài có thể do virus hợp bào hô hấp,  Parainfluenzae. Mycoplasma, Chlamydia, ho gà… Cơ chế ho kéo dài là do hiện tượng viêm nhiễm dai dẳng đường hô hấp với sự tăng mẫn cảm phế quản tạm thời sau nhiễm trùng. Bệnh có thể tự khỏi mà không cần điều trị gì.

Ho do tâm lý - thói quen

Đây là chẩn đoán loại trừ sau khi đã tìm hết các nguyên nhân khác, thường xảy ra ở trẻ thiếu niên. Ho khan, ho nhiều, tăng lên khi căng thẳng, không ho lúc ngủ hay lúc tập trung làm việc gì thích thú. Có thể kèm theo triệu chứng tic (máy giật ở mặt). Trẻ nên đến khám và điều trị ở chuyên khoa tâm lý.

Làm gì khi trẻ ho kéo dài?

Khi trẻ ho kéo dài nên được khám lâm sàng cẩn thận, hỏi về tiền sử dị ứng, hen phế quản trong gia đình, tiếp xúc với khói thuốc lá, bụi bặm, tiền căn tiếp xúc nguồn lây lao,.. cùng với những chỉ định xét nghiệm thích hợp có thể được chẩn đoán đúng và điều trị thành công trong đa số các trường hợp. Những trường hợp khó khăn, nguyên nhân phức tạp trẻ cần được khám tại các cơ sở y tế có chuyên khoa Hô hấp, Nhi.

Trẻ cần được làm các xét nghiệm: Chụp X-Quang phổi, công thức máu; Thử nghiệm lao như: tốc độ lắng máu, IDR tìm phản ứng trong da với lao, tìm vi trùng lao trong đàm hay dịch dạ dày; Chụp hình xoang; Đo chức năng hô hấp; Siêu âm bụng (trẻ nhũ nhi); Xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán tìm vi trùng Mycoplasma, Chlamydia, ho gà; Nội soi phế quản (nghi ngờ dị vật).

(Theo tài liệu của BV Nhi đồng 1- TP. HCM)


Stress khiến viêm khớp dạng thấp trầm trọng thêm

Khám phá nguồn gốc của stress giúp ngăn ngừa tiến triển xấu đi của những cơn đau khớp dạng thấp.

Stress là một phần tất yếu trong cuộc sống thường nhật của mỗi chúng ta, và nó có thể hình thành từ những phiền toái rất nhỏ, như bị kẹt xe khi tham gia giao thông hay phải xếp hàng chờ đợi.

Bất kể là nguyên nhân nào, nếu bị viêm khớp dạng thấp, bạn sẽ nhận thấy rằng, khi mức độ căng thẳng của bạn tăng lên, cơn đau khớp của bạn cũng tăng theo.

Viêm khớp dạng thấp và stress: Định rõ vấn đề

“Dù cho đó là viêm khớp dạng thấp, viêm xương khớp, hay luput, bất kỳ căn bệnh nào cộng với stress cũng có thể làm tình trạng bệnh trở lên tồi tệ hơn”, Richard Roseff, bác sỹ y khoa, chuyên gia viêm khớp dạng thấp tại bệnh viện ở Danbury và Ridgefield, Connecticut nói.

Stress khiến viêm khớp dạng thấp trầm trọng thêm

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng stress có thể đóng một vai trò trong quá trình đau viêm. Viêm trong viêm khớp dạng thấp một phần được gây ra bởi các phân tử được gọi là các cytokine. Các cytokine được giải phóng vì một loạt các lý do, trong đó có stress. Nếu bạn bị stress và giải phóng nhiều các cytokine, bạn sẽ có nguy cơ tiến triển nhanh quá trình viêm đau.

Xác định được nguồn gốc của sự căng thẳng tức là bạn đã giải quyết thỏa đáng được vấn đề. “Stress có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau”, tiến sĩ Roseff nói. “ Một số căng thẳng có thể tự nhiên khỏi, giống như cái chết của người thân – thời gian sẽ làm lắng dịu cảm giác này. Nhưng có những căng thẳng thuộc thể mãn tính, vậy nên chúng ta cần cố gắng nắm chắc được tận gốc vấn đề”.

Một khi tìm ra lý do thực sự cho những căng thẳng này, bạn cần phải đối phó với nó. Dĩ nhiên, không phải mọi căng thẳng đều có thể được loại bỏ dễ dàng. Trong trường hợp này, mục đích đặt ra

Phạm Thảo

(theo Everyday Health)

Tầm soát bệnh tim bẩm sinh nặng ở trẻ sơ sinh

Trong vài năm trở lại đây việc tầm soát tim bẩm sinh bằng siêu âm tim thai ở nước ta đã giúp tiên lượng và tránh được những tử vong đáng tiếc cho trẻ. Nếu phát hiện bệnh tim bẩm sinh sớm, chúng ta có thể điều trị sớm một số bệnh lý giúp cho trẻ qua được cơn nguy kịch. Trong ngày đầu tiên khi sinh, chúng ta có thể dễ dàng nhận biết bằng một dụng cụ đơn giản là kẹp đo bão hòa ôxy. Với trẻ nghi ngờ, chúng ta nên gửi khám bác sĩ chuyên khoa tim mạch và siêu âm tim. Việc tầm soát bệnh tim bẩm sinh nặng là rất cần thiết.

Kẹp đo bão hòa ôxy

Khi ôxy được hít vào qua phổi sẽ gắn với một thành phần của hồng cầu (hemoglobin). Ôxy khi gắn vào hemoglobin sẽ chạy đến các mô của cơ thể. Bão hòa ôxy với máu động mạch thường có màu đỏ tươi và với máu tĩnh mạch có màu tối hơn. Kẹp đo bão hòa ôxy dựa trên nguyên lý của máy đo quang phổ và lực nẩy của hemoglobin và mạch ngoại vi khi máu chảy qua để xác định độ bão hòa ôxy trong máu. Kẹp đo bão hòa ôxy có thể kẹp ở ngón tay hoặc ở ngón chân. Một số khác thiết kế để cuốn quanh đầu chi. Đầu của kẹp bão hòa ôxy thường có 1 đèn sáng, đầu nhận cảm cho phép đo sự khác biệt giữa hemoglobin giàu ôxy và hemoglobin nghèo ôxy. Khi đo được đèn sẽ hiện sáng. Nếu đo được hemoglobin giàu ôxy đèn sẽ sáng xanh trong khi đó nếu hemoglobin nghèo ôxy thường đèn sẽ đỏ. Đầu nhạy cảm số ở đầu sẽ tính toán sự khác biệt và chuyển thông tin đọc được độ bão hòa ôxy ra máy theo dõi. Hiện nay, hầu hết các máy theo dõi điện tim và áp lực thường có đầu nối với kẹp đo bão hòa ôxy. Kẹp đo bão hòa ôxy là một phương pháp đo đơn giản để phát hiện bệnh tim bẩm sinh nặng.

Ống động mạch ở bệnh tim bẩm sinh nặng.

Ống động mạch ở bệnh tim bẩm sinh nặng

Trước khi sinh, động mạch chủ và động mạch phổi của trẻ chưa sinh thường được nối bằng một mạch máu gọi là ống động mạch. Ống này giúp cho duy trì tuần hoàn ở trẻ đang trong bụng mẹ. Ống này khi sinh ra sẽ dần đóng lại. Nhiều bệnh tim bẩm sinh sống được phụ thuộc vào ống động mạch này khi sinh ra. Một vài trẻ bị bệnh tim bẩm sinh sẽ được cho thuốc để giữ cho ống này không bị đóng lại, thậm trí một số trẻ phải đặt stent để duy trì ống này làm đảm bảo cho trẻ có mức bão hòa ôxy cao hơn.

Bệnh tim bẩm sinh nặng

Trẻ bị bệnh tim bẩm sinh nặng có nguy cơ tử vong cao nếu chúng ta chậm trễ trong chẩn đoán và chuyển bệnh nhân đến các trung tâm tim bẩm sinh có kinh nghiệm để điều trị cho trẻ. Những đứa trẻ bị bệnh tim bẩm sinh nặng thường được phẫu thuật hoặc can thiệp sớm trong năm đầu tiên. Thường khoảng 1/3 trẻ bị tim bẩm sinh nặng cần phải can thiệp ngay trong thời gian này. Những trẻ có bệnh tim bẩm sinh nặng thường có độ bão hòa ôxy thấp và có thể dễ dàng phát hiện qua kẹp đo bão hòa ôxy. Với trẻ có bão hòa ôxy thấp nên được tầm soát bệnh tim mạch ngay trong 1-2 ngày đầu. Trẻ mới sinh với bệnh tim bẩm sinh nặng thường có nguy cơ cao tử vong nếu không được chẩn đoán sớm ngay khi sinh.

Có 7 bệnh lý tim bẩm sinh nặng thường gặp nên được tầm soát sau khi sinh bao gồm: hội chứng thiểu sản thất trái; thiểu sản động mạch phổi; tứ chứng Fallot; bất thường hoàn toàn đổ về của tĩnh mạch phổi; đảo gốc động mạch; thiểu sản van ba lá; thân chung động mạch.

Nếu không được tầm soát đúng đắn, trẻ mắc tim bẩm sinh nặng thường tử vong sau khi sinh. Nếu độ bão hòa ôxy thấp, chúng ta nên tầm soát bệnh tim bẩm sinh sớm 24 giờ ngay khi sau sinh hoặc trước khi cho trẻ mới sinh ra viện.

Khi nào phải chuyển trẻ đến khám chuyên khoa?

Thường khi đo độ bão hòa ôxy qua kẹp bão hòa ôxy ở trẻ bình thường là 100%. Nếu đo độ bão hòa ôxy dưới 90% thường được gọi là dương tính. Nếu độ bão hòa ôxy dưới 95% hoặc khác biệt giữa tay phải và chân là trên 4% là ngưỡng của độ bão hòa ôxy thấp. Bất cứ trẻ nào có độ bão hòa ôxy thấp cũng nên được chẩn đoán bằng siêu âm tim. Một khi đã biết trẻ bị bệnh tim bẩm sinh nặng thì nên được tiếp nhận theo dõi đặc biệt và điều trị để ngăn chặn tử vong hoặc tàn tật sớm ở trẻ.

Tuy nhiên đo bão hòa ôxy bằng kẹp đo không có nghĩa là sẽ phát hiện được tất cả các bệnh tim bẩm sinh nặng, nó vẫn có thể có những bệnh tim bẩm sinh nặng mà bão hòa ôxy gần như bình thường. Khám tổng thể có thể phát hiện ra được bệnh tim bẩm sinh nặng trước khi có hạ ôxy máu. Bố mẹ trẻ nên biết được các dấu hiệu và triệu chứng của tim bẩm sinh nếu không đo bằng kẹp bão hòa ôxy. Các dấu hiệu này thường là trẻ hay có tím môi và đầu chi, trẻ hay quấy khóc. Phát hiện sớm bệnh tim bẩm sinh nặng sẽ giúp chúng ta cơ hội và kế hoạch tương lai xử lý cho trẻ.

TS.BS. Phạm Như Hùng

((Tổng thư ký Hội Tim mạch học can thiệp))

Giảm tiểu cầu sơ sinh

Giảm tiểu cầu là một bệnh lý chảy máu thường gặp của sơ sinh, đặc biệt là sơ sinh bệnh lý. Tần suất giảm tiểu cầu trong dân số sơ sinh trung bình 1 - 5%. Hậu quả nặng nhất là xuất huyết nội sọ có thể để lại di chứng thần kinh lâu dài cho trẻ. Nguyên nhân thực tế thường gặp là trẻ sinh non, nhẹ cân, trẻ sinh ngạt, trẻ nhiễm trùng sơ sinh và những trẻ có nhiễm trùng bào thai như: mẹ nhiễm rubella, mẹ nhiễm Cytomega virút...

Bài viết này giúp cho các bà mẹ mang thai hay những bà mẹ dự định sinh bé có những thông tin để hiểu rõ bệnh lý giảm tiểu cầu ảnh hưởng hậu quả nặng nề cho gia đình và xã hội, một khi không có sự chăm sóc tiền sản đầy đủ, các bệnh lý nhiễm trùng không được điều trị dứt điểm hay không có sự tiêm phòng.

Tại sao có giảm tiểu cầu sơ sinh?

Tiểu cầu là một trong những thành phần của máu cùng với bạch cầu và hồng cầu đóng vai trò quan trọng trong quá trình đông máu và chảy máu. Tiểu cầu được tạo thành từ tủy xương tương tự như các tế bào khác trong máu, như bạch cầu và hồng cầu. Tiểu cầu có nguồn gốc từ các tế bào nhân khổng lồ, là những tế bào lớn được tìm thấy trong tủy xương. Những mảnh vỡ của các tế bào nhân khổng lồ này được giải phóng vào máu và thành tiểu cầu. Tiểu cầu lưu thông chiếm khoảng 2/3 lượng tiểu cầu được giải phóng từ tủy xương, 1/3 còn lại được lưu trữ (cô lập) trong lá lách. Số lượng tiểu cầu trong máu được gọi là số lượng tiểu cầu, bình thường là từ 150.000 - 450.000 trong một microlit máu (một phần triệu lít). Lượng tiểu cầu nhỏ hơn 150.000 gọi là giảm tiểu cầu.

Một khi có một bất thường ở tủy xương, khả năng bị tiêu hủy hay tăng quá mức tiêu thụ tiểu cầu và tăng sự cô lập trong lách đều dẫn đến giảm tiểu cầu.

Giảm tiểu cầu sơ sinh 1
Phụ nữ cần tiêm ngừa các bệnh lý nhiễm  trùng, nhiễm virút trước khi mang thai

Nguyên nhân thường gặp

Giảm sản xuất tiểu cầu thường liên quan đến một vấn đề tủy xương (chứng mất bạch cầu hạt). Hầu hết trong các trường hợp này thì hồng cầu và bạch cầu cũng bị ảnh hưởng. Nhiễm virút ảnh hưởng đến tủy xương cho thai nhi gặp trong lúc mang thai trong những tháng đầu thai kỳ mẹ bị nhiễm: rubella, quai bị, trái rạ (thủy đậu), viêm gan C, Epstein-Barr virút và HIV. Ngoài ra, trong giai đoạn mang thai mẹ uống thuốc Chloramphenicol, thiếu vitamin B12, thiếu sắt, thiếu acid folic, mẹ nghiện thuốc lá.

Tăng phá hủy hoặc tiêu thụ tiểu cầu có thể được tìm thấy trong một số trường hợp như một số loại thuốc gây ra phản ứng miễn dịch chống lại tiểu cầu do mẹ uống thường xuyên trong lúc mang thai: kháng sinh sulfanamide, digoxin, quinine, rifampin...

Nhiễm trùng nặng sơ sinh (nhiễm trùng huyết), nhiễm trùng ối, sinh ngạt hoặc chấn thương trong quá trình sinh, đôi khi có thể gây ra sự tiêu hao làm giảm tiểu cầu. Đặc biệt, trẻ sinh non tháng do thiếu hụt các yếu tố đông máu và lượng prothrompin thấp gây ra tình trạng xuất huyết các phủ tạng, điều này làm giảm sự tiêu hao tiểu cầu, sinh non gây nhiễm trùng huyết, viêm màng não, viêm phổi và viêm ruột hoại tử gây ra giảm tiểu cầu trầm trọng.

Dấu hiệu nhận biết

Các dấu hiệu trong giảm tiểu cầu ở mức độ nhẹ thường ít có biểu hiện. Thường xảy ra sau 3 ngày tuổi, đa số triệu chứng ban đầu của trẻ là nhiễm trùng sơ sinh hay liên quan đến viêm ruột hoại tử, trẻ sinh ngạt, đa hồng cầu, tim bẩm sinh, u nguyên bào thần kinh. Dấu hiệu xuất huyết, thường mức độ nhẹ như chấm xuất huyết trên da thành từng mảng toàn thân hay nốt bầm tím, mức độ nặng như xuất huyết nội sọ, xuất huyết nội tạng: xuất huyết phổi, thượng thận… Kèm theo gan to, lách to.

Ngoài triệu chứng giảm tiểu cầu, còn kèm theo thiếu máu, khi lượng hemoglobin dưới 13g/dl. Thay đổi hình dạng hồng cầu, bạch cầu trên phết máu ngoại biên. Mức độ giảm số lượng tiểu cầu có tỉ lệ thuận với mức độ xuất huyết. Mức độ xuất huyết xảy ra khi lượng tiểu cầu giảm dưới 60.000 trong một microlit máu.

Điều trị

Đây là một bệnh lý rối loạn chảy máu gặp ở trẻ sơ sinh. Việc điều trị cơ bản là nâng số lượng tiểu cầu lên, bằng cách truyền tiểu cầu đậm đặc, song song đó là điều trị tích cực bệnh lý nhiễm trùng. Trong một số trường hợp có chỉ định dùng corticoid có liên quan đến cơ chế miễn dịch.

Thực tế, tỉ lệ tiểu cầu được nâng lên sau khi truyền 1 lần tiểu cầu đạt hiệu quả: 92 - 95%, đồng thời phối hợp với điều trị bệnh lý nền. Theo một số chuyên gia khẳng định, mặc dù những trẻ sơ sinh bị nhiễm trùng cần được truyền tiểu cầu nhiều hơn, nhưng tiểu cầu có thể hồi phục lại qua 5 - 7 ngày khi nhiễm trùng sơ sinh hoặc viêm ruột hoại tử đã được giải quyết.

Theo dõi sát trong quá trình chuyển dạ sinh, cần can thiệp đúng lúc, khi cuộc chuyển dạ có dấu hiệu bất thường, nhịp tim thai dao động. Tránh để có xảy ra ngạt cho trẻ.

BS. NGUYỄN THUẬN HẢI

Lời khuyên của thầy thuốc

Để dự phòng giảm tiểu cầu sơ sinh, người mẹ trong quá trình mang thai không nên sử dụng bất kỳ các loại thuốc nào mà có nguy cơ ảnh hưởng đến bào thai, cần phải thực hiện tốt theo sự chỉ dẫn của bác sĩ chuyên khoa; tiêm ngừa các bệnh lý nhiễm trùng, nhiễm virút, như: Rubella, viêm gan siêu vi B, điều trị tốt các bệnh lý nhiễm trùng khác trước khi mang thai. Những bà mẹ có tiền căn sinh non, cần có chế độ nghỉ ngơi đặc biệt, khi có dấu hiệu bất thường cần điều trị sớm.


Phòng viêm họng ở trẻ em

Hỏi: Con tôi năm nay 5 tuổi, thường bị viêm họng, đi khám bác sĩ, điều trị vài ngày thì khỏi, sau đó lại bị tái lại. Vậy tôi xin hỏi, làm cách nào để phòng bệnh cho cháu?

(Lưu Trần Bích L. - Đồng Nai)

Trả lời: Ở điều kiện sinh lý bình thường, họng là ngã tư của đường ăn và đường thở, nối liền mũi ở phía trên, miệng ở phía trước với thanh quản và thực quản ở phía dưới, giống như một cái phễu phần trên loe rộng, phần dưới thu hẹp, thành họng được cấu trúc bởi lớp cân, cơ, niêm mạc. Họng có các tổ chức lympho tạo thành một vòng bao quanh gọi là vòng Waldeyer, với chức năng là sinh ra các kháng thể để bảo vệ cơ thể, giống như cấu trúc của hạch bạch huyết, mà các nhà khoa học gọi là amidan. Họng với nhiều chức năng sinh lý khác nhau như: nuốt, thở, phát âm, vị giác… là ngã tư giữa đường ăn và đường thở, là cửa ngõ của không khí, thức ăn và nước uống, cho nên là nơi rất thuận lợi cho virút, vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể để gây bệnh, đặc biệt là viêm họng ở trẻ em, bệnh chiếm tỉ lệ hàng đầu trong số lần khám tại các phòng khám nhi khoa.

Về nguyên nhân, viêm họng cấp tính là loại bệnh khá phổ biến, thường xuất hiện do vi khuẩn như: phế cầu, liên cầu hoặc các vi khuẩn khác sẵn có ở họng hay virút gây nên như: virút cúm, sởi…

Phòng viêm họng ở trẻ em

Về phòng bệnh, trước hết bạn cần vệ sinh họng, răng, miệng cho bé hằng ngày như đánh răng, súc họng bằng nước muối loãng; khi mắc bệnh răng, miệng, xoang, mũi... Cần được điều trị dứt điểm tránh để mầm bệnh tồn tại và lây lan vào gây viêm họng. Khi viêm họng có chỉ định điều trị, cần thực hiện nghiêm túc, uống thuốc theo toa, đúng phác đồ kháng sinh được kê toa, uống đúng thuốc, đủ liều, đúng thời gian. Không được tự ý mua thuốc kháng sinh để điều trị vì điều trị không đúng sẽ để lại tình trạng kháng thuốc, làm cho điều trị sau này gặp nhiều khó khăn do tình trạng kháng thuốc. Cần đeo khẩu trang cho bé khi ra đường để tránh khói - bụi. Tránh cho bé uốngnước quá lạnh hoặc quá nóng hay có thói quen ngậm kẹo, hay ăn kem; với phòng ngủ cần thoáng mát, nếu có điều hòa nhiệt độ cần giữ ở mức nhiệt độ mát mẻ dễ chịu, nhiệt độ lý tưởng cho bé là khoảng 24 - 260C. Nếu sử dụng quạt, nên cho bé nằm quạt tốc độ lớn trong thời gian ngắn giúp bé dễ ngủ, sau đó giảm dần cường độ, quạt phải luôn được quay thay đổi hướng gió. Tập cho bé thói quen uống nhiều nước, tốt nhất là nước đun sôi để nguội, đánh răng sau mỗi bữa ăn, tập thói quen rửa tay trước khi ăn, và rửa tay sau khi đi vệ sinh. Cần thực hiện tốt chế độ dinh dưỡng, cân bằng và đủ dưỡng chất. Tránh tập trung nơi đông người khi có dịch bệnh, nhất là bệnh cúm; tránh nơi môi trường bị ô nhiễm, khói bụi…

BS.CKI. TRẦN QUỐC LONG

Trẻ em dễ bị mù do thiếu vitamin A

Vì vậy, các bậc cha mẹ và mọi người cần biết cách phòng, phát hiện sớm bệnh và xử trí đúng để tránh mù lòa cho trẻ em.

Dấu hiệu giúp phát hiện sớm bệnh là gì?

Biểu hiện sớm nhất của thiếu vitamin A là bệnh quáng gà: vào lúc chập choạng tối, trẻ còn bé có thể hay theo nhầm người khác tưởng là mẹ, trẻ nhỏ đi lại khó khăn, hay va vấp phải các đồ vật trong nhà, hoặc phải lần theo tường để đi. Đối với trẻ lớn hơn thì không dám chạy theo bạn đùa nghịch, thường ngồi yên ở góc nhà hoặc bậc cửa. Trong khi ăn cơm, trẻ thường xúc trượt đĩa thức ăn. Giai đoạn khô kết mạc (hay khô lòng trắng mắt): nếu khỏe mạnh, lòng trắng mắt của trẻ phải ướt đều, bóng láng, trong suốt. Khi bị khô mắt, lòng trắng mắt bị khô, trở nên sần sùi, không còn ướt bóng nữa. Dần dần, lòng trắng mắt của trẻ bị mờ đục, đổi thành màu vàng nhạt hoặc xám nhạt, nhăn nheo. Ở lòng trắng mắt của trẻ xuất hiện những đám bọt xốp màu trắng như bọt xà phòng. Khi đó trẻ hay chớp mắt, hay cụp mắt nhìn xuống khi ra chỗ sáng.

Giai đoạn khô nhuyễn giác mạc (khô lòng đen), ở trẻ khỏe mạnh, lòng đen mắt phải nhẵn bóng, ướt đều, trong suốt, trông đen nhánh. Khi bị khô mắt, lòng đen mắt trở nên mờ đục, sần sùi, trông lờ mờ như tấm kính bị bám hơi nước. Nếu không được phát hiện bệnh và điều trị kịp thời, chỉ trong vài ngày, lòng đen mắt bị nhuyễn nát, loét ra, tạo thành ổ loét có màu vàng bẩn, rồi mắt bị thủng và nhiễm khuẩn. Để đến giai đoạn này mới đưa trẻ đi bệnh viện khám chữa bệnh thì đã muộn, nhất định sẽ để lại sẹo giác mạc gây mù loà, nghiêm trọng hơn có thể phải khoét bỏ con mắt. Ở trẻ bị khô mắt thường kèm theo các bệnh nặng khác như suy dinh dưỡng, tiêu chảy, rối loạn tiêu hoá kéo dài, viêm phổi, viêm phế quản, sởi... có thể dẫn đến tử vong nhanh chóng.

thiếu vitamin ATổn thương loét khô giác mạc do thiếu vitamin A.

Xử trí và chăm sóc khi trẻ bị bệnh ra sao?

Cha mẹ hay người nuôi dưỡng khi thấy trẻ có các triệu chứng kể trên phải nhanh chóng đưa trẻ đi khám bệnh ở cơ sở y tế gần nhất. Khi đã xác định trẻ bị bệnh khô mắt cần cho cho uống ngay vitamin A liều cao 200.000 UI. Trường hợp không có sẵn vitamin A 200.000 UI, có thể cho trẻ uống 4 viên vitamin A 50.000 UI. Đối với vùng sâu vùng xa không thể mua ngay được vitamin A, có thể cho trẻ ăn ngay mỗi ngày từ 1 - 2 lạng gan lợn hoặc gan bò nấu chín. Tốt nhất là cho trẻ vào điều trị ở khoa nhi các bệnh viện để kết hợp điều trị suy dinh dưỡng và các bệnh nhiễm khuẩn khác.

Phòng bệnh thiếu vitamin A cho trẻ em

Phụ nữ khi có thai và trong thời kỳ cho con bú cần được ăn đủ lượng và chất hàng ngày, uống nước nhiều và nghỉ ngơi đầy đủ để đảm bảo con sinh ra được khoẻ mạnh. Chú ý trong thời gian 3 tháng đầu có thai, phụ nữ không được uống vitamin A liều cao vì có thể xảy ra dị dạng bẩm sinh cho thai nhi. Cần nuôi con bằng sữa mẹ ngay từ khi mới đẻ cho đến khi trẻ được 24 tháng tuổi hoặc hơn. Từ tháng thứ 4 trở đi cần cho trẻ ăn dặm để đảm bảo thức ăn cung cấp đủ vitamin A, chất đạm và chất béo cũng như muối khoáng hàng ngày. Vitamin A có nhiều trong các thức ăn có nguồn gốc động vật như gan, lòng đỏ trứng, cá, sữa nhưng có rất ít trong thịt nạc. Chất tiền vitamin A có nhiều trong các loại quả, củ có màu đỏ hoặc màu vàng sẫm như gấc, bí ngô, xoài, hồng, khoai lang nghệ, quả trứng gà…; các loại rau có màu xanh sẫm như rau ngót, rau cải, rau mồng tơi, rau dền, rau đay, rau lang, thì là, súplơ... Khi trẻ từ 6 tháng tuổi trở đi, cần cho trẻ đi uống vitamin A liều cao bổ sung định kỳ 6 tháng/lần theo lịch của cơ quan y tế. Khi phát hiện trẻ có các dấu hiệu thiếu vitamin A đầu tiên như quáng gà, khô lòng trắng mắt, cần đưa trẻ đến ngay các cơ sở y tế để khám và uống vitamin A kịp thời sẽ phòng tránh mù loà cho trẻ.

Tổ chức Y tế Thế giới ước tính, hàng năm có khoảng hơn 3,1 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị mắc bệnh khô mắt do thiếu vitamin A, trong đó một nửa triệu trẻ em bị tử vong, hơn nửa triệu trẻ em khác bị mù, đây là một trong 5 nguyên nhân gây mù chủ yếu cho nhân loại. Ở nước ta trước đây, bệnh khô mắt do thiếu vitamin A đã tồn tại dai dẳng và khá trầm trọng. Từ năm 1989, chương trình phòng chống bệnh khô mắt và thiếu vitamin A ở Việt Nam đã được Bộ Y tế triển khai rộng khắp cả nước với sự giúp đỡ của quốc tế bằng biện pháp chủ yếu là cho trẻ uống vitamin A liều cao định kỳ 6 tháng/lần. Sau nhiều năm thực hiện, đến nay, bệnh khô mắt và thiếu vitamin A ở trẻ em Việt Nam đã được đẩy lùi, chỉ còn rải rác ở các vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa.

BS. Đặng Thị Ngọc Ba

Chống viêm hô hấp tái phát

Một trong các vấn đề đau đầu của các bà mẹ khi nuôi con nhỏ đó là trẻ hay bị viêm đường hô hấp. thời tiết “sáng nắng, chiều mưa” như hiện nay góp phần “cổ vũ” thêm cho bệnh tái đi tái lại. thường thì cứ một trận này vừa mới qua thì một trận khác lại kéo đến. Dưới đây là một số cách để các bà mẹ rũ bỏ tình trạng này.

“Chiến đấu” ngay từ mũi

Sự cố: một phần lớn trẻ em bị viêm phế quản và viêm phổi là biến chứng từ viêm mũi. Mũi là trung tâm khơi mào và là đường dẫn thuận lợi cho viêm họng và viêm phế quản.

Nguyên nhân: viêm mũi rất dễ gây ra sổ mũi và chảy mũi ở trẻ em. Khi bé đứng thì dịch mũi chảy ra ngoài. Nhưng khi bé nằm thì dịch mũi này chảy xuống họng và đoạn trên thanh quản. Dịch này mang nhiều virút, vi khuẩn và các chất gây viêm. Chúng đóng vai trò như các dịch viêm và mang mầm bệnh làm phát tán sang các vùng khác như họng, khí quản. Vì thế, bé sẽ ngay sau đó sẽ bị viêm khí phế quản.

Giải pháp đối phó: kiểm soát bé từ khi bị viêm mũi họng. Ngay khi bé có hiện tượng viêm mũi, chảy mũi, sổ mũi, chúng ta phải khống chế ngay.

Một mặt giữ ấm cho trẻ và tránh gió lạnh, một mặt các mẹ cần sử dụng thuốc chống chảy mũi cho trẻ em. Trong đa phần các trường hợp mầm bệnh ban đầu chỉ là virút nên các bà mẹ hãy yên tâm mà sử dụng các thuốc này. Hiện nay trên thị trường người ta thường pha lẫn một chút kháng sinh vào trong các thuốc nhỏ mũi, sẽ làm tăng hiệu quả dự phòng nhiễm khuẩn. Một số cách phối hợp an toàn bao gồm: kháng sinh neomycin, polymycin hoặc cloramphenicol + thuốc chống chảy mũi ephedrin, xylometozalin, naphazolin hoặc oxymetazolin + thuốc chống viêm corticoid liều nhẹ betamethason. Đây là công thức phối hợp tiện dụng và an toàn cho một liệu trình ngắn, dưới 3 ngày. Nhỏ mũi là việc rất quan trọng để chống lại viêm mũi họng.

Phòng vệ với quạt máy

Sự cố: mùa hè nóng bức, quạt máy là phương tiện không thể thiếu được, nhất là với trẻ nhỏ ở độ tuổi 5 - 8 tuổi. Lứa tuổi này các bé rất hay chạy nhảy, mồ hôi toát ra và rất thích hứng mặt trước quạt để đã mát. Điều này có tác dụng làm dịu cơn nóng ngay tức khắc nhưng lại rất không tốt với đường thở.

Nguyên nhân: lý do là vì quạt mát làm bay hơi nước nhanh chóng. Nhất là khi tốc độ quạt máy lớn, trực diện vào đường thở, lại thở bằng đường miệng. Lúc này khí thở sẽ không kịp được làm ấm và làm ẩm qua niêm mạc mũi. Chúng dễ dàng làm khô da và đồng nghĩa với đó là làm khô cong đường thở. Tế bào niêm mạc hô hấp rất nhạy cảm với tình trạng này. Khi bị quá khô, chúng bị hoại tử và đường hô hấp bị viêm luôn tại chỗ. Do vậy, họng và khí quản sẽ bị viêm, nhiễm thêm vi khuẩn và virút sau đó.

Chống viêm hô hấp tái phát 1
Nhỏ mũi là việc rất quan trọng để chống lại viêm mũi họng

Giải pháp đối phó: để kiểm soát tình trạng này, bạn nên chú ý tới trẻ ngay sau giờ chơi. Chỉ cho bé ngồi trước quạt dưới 10 phút cho ráo mồ hôi. Sau đó, bạn phải vặn nhỏ tốc độ quạt máy xuống. Đồng thời, bé phải sẽ phải thay đổi tư thế ngồi từ hướng trực diện mặt với quạt chuyển sang quay lưng lại với quạt để giảm tối đa gió thốc vào đường thở. Khi bé nằm ngủ, bạn lưu ý sử dụng quạt tốc độ chậm nhất, cho quay đều và hướng gió thổi xuôi theo đường thở, tức là chếch từ đầu trở xuống chân. Làm được như vậy, bé sẽ hạn chế viêm đường hô hấp do quạt điện gây ra. Với bé đang bị viêm đường hô hấp hoặc vừa mới điều trị, hết sức cẩn thận vì bé có thể dễ dàng bị tái phát và nặng thêm.

Nói không với tắm muộn

Sự cố: với nhịp sống hiện đại gấp gáp, các nhịp sống thường ngày dễ dàng bị thay đổi. Gia đình bạn có thể thức khuya, ngủ muộn, ăn muộn, chơi thể thao muộn và hoàn toàn có thể tắm muộn hơn. Dù vậy, bạn tuyệt đối không nên tắm muộn hơn cho trẻ nếu muốn bảo vệ đường thở của trẻ.

Nguyên nhân: khi vào đêm muộn, cơ thể thay đổi trạng thái hoạt động sang trạng thái nghỉ ngơi. Nhiệt lượng tạo ra vào đêm muộn xuống rất thấp, tốc độ chuyển hóa cũng xuống rất thấp. Mặt khác, vào ban đêm, da giãn ra toàn bộ, lỗ chân lông giãn to lại càng dễ mất nhiệt hơn. Vì thế bé dễ bị nhiễm lạnh. Nhiễm lạnh vùng cổ và vùng ngực dễ làm mạch máu co lại, tăng tiết dịch đường thở và dễ gây ra bội nhiễm mầm bệnh. Vì thế, khi tắm lạnh hoặc tắm muộn, bạn dễ thấy tượng bé bị ho và hắt hơi ngay sau đó.

Lời khuyên của thầy thuốc

Khi bé đang bị bệnh, bạn nhớ phải cho bé uống thuốc đầy đủ theo chỉ định của bác sĩ. Một chế độ điều trị đầy đủ thông thường bao gồm: thuốc kháng sinh, thuốc chống ho, thuốc làm long đờm, thuốc chống viêm và thuốc hạ sốt nếu bé bị sốt cao.

Giải pháp đối phó: không tắm muộn cho bé. Bạn nên tắm cho bé vào khung giờ từ 5 - 6h chiều. Tắm sớm hơn, bé sẽ chạy nhảy và lại bẩn nguyên xi. Tắm muộn hơn thì lại dễ bị viêm đường hô hấp. Trong mọi tình huống, bạn không nên tắm cho trẻ sau 8h tối, kể cả khi bạn có sử dụng bình nóng lạnh. Vì nước nóng chỉ có tác dụng làm ấm khi tiếp xúc với nước. Khi nước ấm trôi đi, cơ thể sẽ bị mất nhiệt và lạnh ngay. Nếu bạn quá bận việc mà lỡ để quên việc tắm cho trẻ đến tận 10h tối thì chỉ nên lau chân, tay, ngực, lưng và nách bằng nước ấm. Hãy bỏ qua công đoạn tắm và chuyển sang ngày hôm sau.

Sống hiện đại với máy điều hòa

Sự cố: máy tạo ra nhiệt độ như ý để đem đến giấc ngủ ngon cho cả gia đình. Nhưng nó lại có nhược điểm cố hữu là không thể tạo ra một không gian đồng đều về nhiệt độ trong buồng ngủ. Và do đó, dễ bị viêm, nhiễm đường thở.

Nguyên nhân: lý do vì máy điều hòa vừa tạo ra hơi gió mạnh, vừa tạo ra hơi lạnh. Gió của máy sẽ đẩy hơi lạnh đi tới vùng nào mà gió tới. Nếu không chú ý, bạn có thể bị hơi lạnh của điều hòa đi thẳng vào trong khí quản của trẻ nhỏ. Mặt khác, vì hơi mát rất dễ chịu. Nhưng giới hạn từ mát sang lạnh rất mong manh. Nếu không chú ý, bé của bạn có thể bị nhiễm lạnh do điều hòa và sẽ bị ho luôn.

Giải pháp đối phó: để sống hiện đại và an toàn với máy điều hòa, bạn nên biết cách sử dụng máy thông minh và thân thiện với sức khỏe. Ban đầu, bạn để chế độ làm lạnh nhanh để tạo hơi mát khẩn cấp. Song chế độ làm lạnh nhanh chỉ nên duy trì tối đa trong 5 phút đầu tiên. Trong 5 phút này, không khí nhanh chóng được làm mát, đường thở chưa bị quá khô và cơ thể chưa bị mất nhiệt nhiều. Trong 5 phút này bạn cũng không nên cho bé nằm xuống ngay.

Sau giai đoạn làm lạnh nhanh, bạn sẽ chuyển sang chế độ hoạt động theo nhiệt độ. Giải nhiệt độ tiếp theo nên sử dụng là 26 - 27oC với chế độ quạt gió to. Chế độ này làm hơi mát tràn đều trong phòng.

Khi bắt đầu vào giai đoạn ngủ, bạn chỉ nên để máy điều hòa ở chế độ 280C, quạt gió to hay nhỏ tùy thuộc vào độ lớn của căn phòng. Một điều lưu ý là không nên bố trí máy ngược hướng với hướng nằm ngủ. Vì như vậy có thể làm hơi lạnh thốc ngay vào mũi và gây ra viêm mũi họng.

Cách bố trí an toàn là điều hòa xuôi theo hướng nằm, lệch hướng với giường hoặc chỉ thổi đến ngang chân. Nếu phòng ngủ rộng, bạn có thể bố trí điều hòa lệch vị trí giường nằm, như vậy sẽ rất an toàn. Khi bé ngủ, bạn nhớ có một tấm chăn mỏng để phủ lên ngực bụng, nhất là vào giữa đêm để giữ ấm cơ thể cho trẻ.

 BS. YÊN LÂM PHÚC

Trẻ có thể mắc bệnh tay chân miệng nhiều lần

Bệnh tay chân miệng   (TCM) hiện nay là bệnh rất dễ mắc nhất là trẻ dưới 3 tuổi, gây nhiều tác hại đến đến sức khỏe của trẻ, nhất là những t...